Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

MẠNH – VIÊN TƯƠNG QUAN 12 CUNG


Biểu Lý Tính Mạnh
Ta thường nói Tính Mạnh, vậy ảnh hưởng ở các địa vật là Tính và thụ bẩm ở thiên can trời phú là Mạnh nên lập Mạnh để biết thọ yểu. Mạnh là gốc của 12 cung số cần phải tốt đẹp. Ví như cây kia gốc rễ có to lớn bền chặt mới không sợ gío bão, và mới sinh được hoa thơm quả ngọt.
Có thể cây kia to lớn xanh tốt, lại sinh hoa quả xấu, ví như Mạnh và Thân, nếu mạnh tốt Thân xấu là Mạnh cường Thân nhược thời cuộc đời tuy phú quý nhưng gặp  nhiều vận hạn rủi ro. Mạnh xấu Thân tốt là Mạnh nhược Thân cường, thời cuộc đời tuy phú túc, có tiền tài nhưng ngu dốt, bệnh hoạn và hình khắc, ví như loại cây có hoa quả thơm ngọt nhưng gốc rễ bị hổng l64, sâu đục chắc không thể nào trường thọ được.
Nên quan niệm Mạnh Thân là duyên nợ của mình từ bao kiếp trước, tỷ như thuyết nhân quả của nhà Phật, nên trong cuộc sống hiện thực, có bao người giỏi giang, học thức mà vẫn thất bại. Trái lại, thiếu chi người khả năng kém mà lại thành công, hiển đạt; thật là : si tủng ấm á gia hào phú, trí tuệ thông minh khước thụ bần ; bởi ảnh hưởng phúc đức thiện á từ bao kiếp trước của mình, cộng với công tội của cha mẹ ông bà kết hợp lại mà thành cái may mắn, hoặc tai họa của đời mình, nên ta thường nghe nói : cha ăn mặn  con khát nước.
Cung Mạnh có ảnh hưởng chung cuộc sống, nhưng mạnh mẽ nhất là thời gian nửa cuộc đời trước nên tử-vi đã phân định, tam thập niên quan mạnh, mà nửa cuộc đời sau xin xem ở Thân, tam thập niên hậu khán thân.
Thân tương quan Mạnh-lý
Thân là kết quả chịu trực tiếp các đức tính, các công nghiệp của Mạnh mà thành, nên Mạnh là nhân và thân là quả của Mạnh. Mạnh chi phối toàn cuộc đời, lại gồm thêm sự thọ yểu mà Thân chỉ có nửa đời sau, nên Mạnh quan trọng hơn Thân nhiều, không thể nói mạnh hảo bất như thân hảo được. Thân hảo tuy có làm nên nhưng nếu mạnh yểu vong thời củng là bỏ đi vậy. Cũng như Thân hảo bất như Hạn hảo thời nên luận xét Hạn là thời vận, mà Mạnh Thân  ___ gốc rễ; đã được phú quý rồi, nếu Thân Mạnh xấu dù có gặp được hạn tốt nữa, cũng chỉ như cơn mưa mát mặt dễ chịu lúc ấy thôi, sau phải bại vong ngay, vì Mạnh Thân xấu thời sao giữ được phú quí lâu dài.
Phải lấy Mạnh là chủ, luận với Thân cũng như Mạnh Thân với Phúc - đức vậy.
Phúc – cung liên hệ Mạnh Thân
Ta thường nói cung Phúc-đức là tối trọng, Phúc-đức đẹp mới làm nên được, nếu Phúc đức xấu là xấu.
Định luật này đúng với các môn học khác vì Phúc-đức và các cung khác không có tuyến định phân rõ ràng, riêng ở Tử-vi thời Phúc-đức I cung, Mạnh 1 cung, Thân cư cung nào luận Thân ở cung ấy, đã có giới hạn rõ ràng, không thể áp dụng như các môn học khác được.
Mạnh Thân phải tốt mới làm nên được, nếu Mạnh Thân xấu thời không làm nên phú quý hiển đạt được.
Thân cung chỉ để hợp luận với các cung mà thôi, nếu Phúc-đức tốt thời tăng thêm, xấu sẽ bị chiết giảm.
Phúc-cung để khán cả một đại gia tộc, tam tứ đại và tương lai các con cháu sau này manh nha ở các môi trường phúc, thiện, hung, trong cung Phúc đức mà chịu liên hệ cũng như Mạnh Thân chịu chung ảnh hưởng của Phúc-cung.
Nếu nói sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy là phúc-đức hệ lụy từ bao kiếp trước cùng với phúc-ấm tổ tiên là nhân của Mạnh thời do thiện ác đã kết hợp nên Mạnh xấu hay tốt rồi.
Nên Mạnh tốt là kết quả của phúc ấm tốt mà phúc bạc thời hẳn Mạnh sẽ xấu.
Mạnh Thân  xấu là hiển nhiên phúc ấm lưu truyền xấu nên không thể hiển đạt đựơc.
Mạnh Thân tốt là kết quả của phúc đức tốt kết hợp lại nên sẽ được thịnh vượng.
Biểu lý Phúc-cung
Thí dụ : Con 1 nhà quyền quí, có họ hàng nhiều người làm nên danh phận, trí khôn ngu muội, tuy học hành không thành, ra đời không chức tước nhưng được nhờ của cải hi lu li của cha mẹ và họ hàng mà được ấm  thân thời lá số sẽ hiện ra Cung Thân xấu mà Phúc cung tốt đẹp ; trái lại một người con nhà nghèo, ra đời công thành danh toại, vì có cung Mạnh Thân tốt đẹp mới làm nên được nhưng cung Phúc đâu có đẹp hoàn toàn, Các cung Tử-đức, Huynh-đệ, Phụ-mẫu, Mạnh Thân thời nên hiệp ảnh hưởng cung Phúc lại mà luận xét. Nếu thấy phúc tốt thời vì như có sẵn duyên phứơc căn bản để tăng tiến thêm sự tốt đẹp, riêng Mạnh Thân nếu xấu thời chỉ y thực túc hỷ mà thôi, không thể quý hiển được.
Nếu đã hiểu tiên tích đức nhi hậu tầm long thời ăn ở lấy phúc đức làm trọng để sau này hậu duệ được nở ngành xanh ngọn, không nên tác hung, tác họa mà sau sẽ tuyệt đường vinh danh hiển tổ.
Truyền tinh liên hệ
ở Tử-vi học thường nói sinh đồng niên, nguyệt, nhật tại sao lại bất đồng phú quý là vì 2 trẻ sinh đồng giờ tất độ số tinh đẩu như nhau nhưng phải phối hợp số cha mẹ của 2 trẻ lại để xem.
Đứa trẻ không làm nên, tuy các sao ở cung Mạnh của nó cũng giống như các sao ở cung Mạnh của đức kia, nhưng cung Mạnh hay Phúc của nó không có sự truyền tinh với cung Phúc Mạnh của cha mẹ nó.
Một gia tộc đã vượng phát mấy đời, khi đem các lá số ra đối chiếu cũng thường thấy các sao cư Phúc và Mạnh truyền  tinh mãi cho nhau, khi thấy các sao ở Phúc và Mạnh không truyền tinh là dấu hiệu suy tàn đã tới.
Cũng một định luật, địa-lý gia tại sao hạ la-bàn khán mộ thạch xong lại biết nam nữ thứ trưởng hay con út ngành nào phát, ngành nào bại và thường phát cho toàn thể các tuổi được.
ở Tử-vi, lá số nào không truyền tinh là bại, trừ khi thấy có Cát diệu hội triều đẹp hơn so với các số trong gia đình tất nhiên có sự vượt lên, hay đã được hưởng phúc mới kết phát vậy.
Tương quan Mạnh và Tài
Nên luôn luôn coi cung Mạnh là chủ, ví như ngừơi cha trong một gia đình, không thể suy nhược yếu hèn được. Cũng như một cái hồ nước, có cứng chắc giầy bền thời chứa quá nhiều thời hồ sẽ bị bể, và nứơc tràn ra làm dơ bẩn thêm.
Nên Mạnh cường Tài nhượt thường phát phúc.
Nếu Mạnh nhược Tài cường năng chiêu họa.
Vậy tiền tài đến tay chưa chắc là phúc, vì nếu không đủ tài ba mẫn cán sẽ ngược lại là hạn họa.
Phu-Thê cung
Cũng như vợ chồng so đôi tuổi, thời phu khắc thê nghi tài, nghi tử, nghi phú, nghi quý.
Mà thê khắc phu thì nghi bai nghi vong.
Khi nghiên cứu Đẩu-số mới thấy sự huyền diệu, vợ chồng là duyên kiếp, Thiên-lý ngộ, nếu có sự hòa hợp bách niên giai lão, lá số tất nhiên có sự truyền tinh ở cung Phu-Thê.
Nô Bộc
Các sao ở cung Mạnh dù hung tính hay cát tính cũng phải tốt đẹp hơn các sao ở cung Nô Bộc thời minh mới mong điều khiển các gia nhân giúp việc, tuân hành kỷ luật để phù trì cho nên công nghiệp.
Nếu lấy các sao ở Mạnh yếu hơn cung Nô-Bộc tức là mình sẽ giúp việc kẻ khác là lý đó vậy.
Điền - Trạch
Nếu các sao cư ở cung Điền-trạch là Khoa Quyền Lộc,  Thai Tọa, Tả Hữu, là hiển nhiên mình sẽ là gia nhân cho nhà phú quý, nếu các sap cư ở cung Mạnh quá yếu.
Như vậy không nên luận cung Điền-trạch tốt lắm mà lầm lỡ, nếu thấy cung Mạnh yếu.
Phụ-Mẫu
Ngay như Phụ-mẫu là bậc sinh thành thời các sao cũng nên yếu hơn cung Mạnh Thân, vì cung Mạnh Thân là chủ trong 12 cung, nếu xác sao cát diệu cư ở các cung khác thời còn đâu sao tốt cư ở cung Mạnh Thân được?
Vả chăng con hơn cha là nhà có phúc, cho nên Mạnh tốt hơn Phụ-mẫu là điều đáng mừng chớ không đáng trách, Cung Mạnh phải là chủ thứ đến Thân Quan Tài không được yếu hơn các cung khác, cũng như Nữ phải Mạnh Thân Phu là trọng, các cung  khác là thứ chi.
Vậy Nam hay Nữ ngoài cung Mạnh Thân Phu Quan Tài phải đặt cung Tử -tức thành một vần để hiệp thêm với Phúc-đức mà xét.
Vì cuộc đời tuy có bôn ba lao lực nhưng vẵn niên con cái thành đạt tất nhiên sẽ được an hưởng lúc tuổi già.
Tật – Ách cung
Hơn nữa, cung Tật -ách nên coi là cung Mạnh thứ hai nhu bóng với bóng hình, tạo hạnh phúc hay tai tật cho cả cuộc đời.
Tật – ách là căn cứ để xem đám tang lớn –lao ra sao khi chết, nên có thể phụ luận ,à biết được sự phú quý có trường tồn không , nếu các sao tượng cho một cuộc ma chay lớn, cũng là dấu hiệu để biết được sự quý hiển tới lúc chầu tiên cảnh,
Phải căn cứ vào ngũ - hành của tinh diệu cư Tật -ách mà luận xét bệnh tật cũng như tính tình thụ bẩm từ từ ngũ hành vậy.
               Nên mộc giả nhân thọ
                   Cơ Lương thuộc mộc chủ thọ trường
                   Kim chủ quả cam
                   Nên Vũ - khúc thuộc kim cương quyết
                   Hỏa chủ đoan chính
                   Liêm - trinh hoả chủ thanh bạch
                   Thổ cư hậu trọng
                   Tử Phủ chủ phúc hậu
                   Thủy chủ trí tuệ
                   Thiên-đồng, thủy, sinh kỳ trí.
Tìm nguyên gốc bệnh thời căn cứ vào hành của bản Mạnh (Mạnh thuộc ngũ hành nào) đối chiếu với các sao cư cung Tật -ách sinh khắc ra sao đẻ tìm bệnh.
Cũng như đáo vận - hành niên nguyệt thuộc ngành nào định-lý sinh khắc, để biết bệnh gì, gọi là vận bệnh.
Nếu biết được bệnh nguyên gốc và tính được vận bệnh thời sự phòng bệnh sẽ giúp ta không nhỏ trong cuộc sống; vả chăng đã có sự ngăn ngừa tất nhiên sẽ dùng được các phương dược y khoa để chấn áp, thời khó mà lâm trọng bệnh được.
Nhận-thân là tượng thiên địa nên lục phủ,ngũ tạng người ta cũng được phân định theo ngũ hành và các sao cũng có ngũ hành nên căn cứ ở hàng của bản Mạnh là căn bản (rĩ mạnh hành vi chủ) để luận xét về các bệnh trạng.
Ngũ – hành tiêu trưởng
Ngũ-hành tiêu trưởng liệt phân như sau :
          Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tuyệt
1) Khi MỘC VƯỢNG thời : hỏa tướng, thuỷ hưu
                                       kim tù mà thổ tuyệt
2) Khi HOẢ VƯỢNG thời : thổ tướng, mộc hưu
                                      thủy tù mà kim tuyệt
3) Khi KIM VƯỢNG thời :  thủy tướng, thổ hưu
                                      hoả tù mà mộc tuyệt
4) Khi THUỶ VƯỢNG thời : mộc tướng, kim hưu
                                        thổ tù mà hoả tuyệt
5) Khi THỔ VƯỢNG thời : kim tướng, hoả hưu
                                      mộc tù mà thuỷ tuyệt
 THÍ DỤ : - Người mộc mạnh mà thiếu chất thủy sẽ bị huyết bệnh.
- Người thổ mà hoả thiếu là khí thương bệnh.
- Nếu kim hư là thương quan vì hàn tắc lãnh khái (bệnh ho)
- Người kim mạnh mà bị hỏa khắc thì hay bị ho ra máu, Nhiệt tắc phong đàm (bệnh đờm) hay ho lao.
- Kim thuỷ cố hương nhi thận kinh hư, như người mạnh kim bị hoả khắc, người thuỷ thổ khắc dễ bị mắc bệnh thận và thần kinh.
- Cũng như mạnh thổ mà bị mộc khắc là tỳ bị hư (lá lách).
- Người mộc bị kim khắc là cân động cốt thống (đan gân và nhức xương).
Trên đây là nguyên gốc bệnh đã có sẵn trong thân thể , khi lưu niên vận hạn tới các năm, thời nên xem xét để biết  năm ấy thuộc ngũ hành nào, hiệp lại với hành của bản mạnh để luận xét, căn cứ vào định luật vượng, tướng, tuyệt, tất nhiên sẽ biết bệnh hoạn ra sao, cũng như định luật này cùng chung áp dụng đối với tinh tú vậy.
LUẬN CHƯ TINH CÁCH
ĐỊNH LÝ CÁT HUNG
Tinh dầu là các vì sao mà Hi-Di Tiên sinh xem ở tượng trời có ảnh hưởng trực tiếp với con người, lập thành khoa dẩu số vào năm tháng ngày giờ và biết được hoạ phúc thịnh suy.
Các tinh-tú hoặc hiện thực, hoặc tượng hình hay lý khí, xếp thành một quy luật rất tài tình, từ phương vị miếu -vượng hay bại huyệt, cho đến danh biểu các vì sao. Lấy căn bản là sao Tử-vi chủ tế, thường gọi là  Đế -cực.
Tử - vi tinh
TỬ : được định nghĩa là : thanh xích chi gian (xanh và đỏ thẫm hợp lại) tức là màu tín hồng.
Vi : tốt diệu, tối tiểu, ẩn dã.
  Cực linh động, cực bé nhỏ không thể trông thấy được.
TỬ-VI : Vi thiên đình trung hữu ngũ đế tọa, hằng trung chí thiên hữu tam năng tam hành dã.
Tử-vi là toà thiên đình trong có năm vị vương : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ chủ trì, luôn luôn có mặt ở khắp trời, gồm 3 quyền và 3 vị.
Nên linh động hiểu nghĩa chữ Tử-vi không nên quá hiện thực Tử-Vi là một ông vua, nên suy ra cho cung Ngọ là thiêu hỏa (hơi nóng) nên ngũ đế tọa ở Tử-vi sẽ được sinh hóa dễ dàng vì vậy Tử-vi cư Ngọ miếu vượng là ý nghĩa thế.
Thiên - Phủ - Tinh
THIÊN : 1) Bắc cực thần chi biệt danh
                là tên riêng của thần Bắc Cực
         2) Viết âm đức, thái nhất, thiên nhất, địa nhất gồm các đức tính của thái cực                        của trời và đất.
        3) Tả tử cung môn lập, thừa sự thiên vương đại đế vị, cư tại phía trái, thừa hành các công việc vủa Tử-vi đại đế.
        4) Tri nhân cát hung
biết người lành dữ
        5) Diệc tại Thiên-ất quý nhân
là thần phúc hay giúp đỡ.
PHỦ : - Chưởng tổ miếu chi thủ tàng
là thần đứng đầu coi kho tàng
    - Bang quốc chi mạnh thủ
 văn tịch các nước
    - Đinh điền bộ tịch gia đăng ư Thiên-phủ
Nhân đinh điền bộ đều ở Thiên phủ cả.
Vì vậy Tử-vi là nam bắc đẩu, dương thổ, mà Thiên-phủ là nam đẩu âm thổ, phải tương ứng cùng nhau trên 12 cung, để hòa hợp cùng các sao khác kết thành những bộ lớn nhỏ khác xấu tốt là tuỳ theo tính chất và phương vị các sao.
Về khoa đẩu số, mỗi sao đều có phương vị miếu hãm và bản chất riêng, miếu là tốt và hãm là xấu.
Miếu địa và hãm địa
Nên cần nghiên cứu để tính các cung miếu hãm của các sao để dễ phân luận:
Thí dụ: các chính tinh đóng ở nơi miếu vượng, gặp các sao tốt cư chiếu phù trì nữa mới là thực tốt.
Nhưng nếu đóng ở nơi tốt lại gặp phải hai sao Tuần Triệt thì lại xấu, vì đã bị khắc chế.
Tử-vi là ông vua, thì ông vua phải ngồi ở chốn cung điện có hai hàng  văn võ phù trì có quán tính canh gác; nếu ông vua lại ngồi ở quán nước, không ở cung này tất sẽ ở cung khác, không có kẻ hộ vệ tất chỉ 1 cận cao bồi cũng hiếp đáp được.
Đây là chỗ khó khăn của người mới nhập môn, hơn một trăm vì sao, an trên 12 cung, không ở cung này tất sẽ ở cung khác, không thể bỏ đi một vị nào được, nên các sao kết hợp ở cung này đang tốt mà thành xấu, vì gặp các sao ác sát hay Triệt Tuần án ngữ.
Phân chia tinh đẩu
Các sao được chia thành nhóm, có tính chất thiện ác, hoặc phù trì hay hãm hãi lẫn nhau.
Quý tinh hay tôn tinh
Quí tinh là các sao chủ ảnh hưởng đến sự giàu có của cải súc tích, ruộng cả ao sâu, nhà cao cửa rộng.
Nhóm văn tinh
Văn tinh là các sao ảnh hưởng về quyền chức, quan tứơc, danh phận về đường hoạn lộ.
Nhóm tài tinh
Tài tinh là cácc soa ảnh hưởng đến sự giàu có của cải súc tích, ruộng cả ao sâu, nhà cao cửa rộng.
Nhóm văn tinh
Văn tinh là các sao ảnh hưởng đến sự học hành, văn chương thư tịch.
Nhóm phúc thiện tinh
Nhóm phúc thiện tinh là các sao chuyên gỉai trừ tai nạn, vận hạn,và tăng thêm sự tốt đẹp lên.
Nhóm hung sát
Hung sát tinh là các sao chuyên tác hại, đưa tới những sự hao tán tiền của, trộm cướp, tai nạn, yểu triết, hay những sự việc chẳng lành, thường gọi là hung tinh.
Nhóm tiện tinh
Tiện tinh là các soa ảnh hưởng tới sự nghèo hèn, ngu dốt, mờ ám, thiếu thông minh.
Nhóm hoặc thiện hoặc hung
Là các sao khi gặp sao thiện thì hoá thiện, khi gặp sao ác thì hóa hung ác.
Phản Định Luật
Các sao  được chia từng nhóm có tính chất riêng, có vị trí miếu vương, không phải là định luật cố hữu được, vì còn có phản định luật nữa.
Hai sao Triệt-lộ Tuần-không khi gặp các sao chính tính miếu vương, thời làm cho các sao này,chẳng những không còn tính chất tốt nữa, lại còn hoá ra xấu là tùy theo vị trí.
Một sao cư cung hãm địa là xấu, nhưng ngược lại nếu gặp Triệt Tuần án ngữ lại hoá ra tốt.
HUNG CÁT BIẾN HOÁ
Hơn nữa phải căn cứ các sao cư chíếu mà luận tốt xấu.
1)   Đa hung thiểu cát biến vi hung, là nhiều sao hung ác mà gặp ít sao tốt thì sẽ hoá ra hung
2)   Đa cát thiểu hung biến thành cát, là nhiều sao tốt mà gặt ít sao hung thì sẽ biến thành tốt.
Đây là một định luật của khoa tử vi đã làm cho người nhập môn không hiểu, lẩn quẩn để rồi coi câu phú này cũng như trăm ngàn câu phú khác hoá thành chán nản.
Vì vậy các tinh đẩu phải căn cứ vào cả một hệ thống lý luận. Hãy đơn giản 1 giả thuyết, oai quyền không ai bằngag 1 ông vua, nếu như thất thời thì chỉ một ông “cùhi bắp” cũng hà hiếp được.
Sao Tử-Vi cư Ngọ là ông vua : Thất sát Dần Thân là thần dũng-tượng nhưng nếu ngộ Triệt Tuần thuộc ngũ hành bị khắc chế chẳng những không còn là vua tài giỏi, tường hùng dũng nữa, mà chỉ là những tên ngu độn ôm hận suốt đời.
So sánh tinh đẩu
Một định luật khác cũng quan trọng không kém.
- Phải luận các sao theo địc vị lớn nhỏ, so sánh cát tinh với cát tinh xem sao nào lớn hơn, sao nào nhỏ hơn.
Thí dụ : một võ sinh bao giờ cũng phải phục tòng ông võ sư.
        một người trung học phải kém người đại học
So sánh hung tinh với hung tinh
-              Một chú cao bồi phải phục tòng một chúa đảng
-              Một tướng cướp phải  phục tòng một đại tướng
Luận Triệt_lộ Tuần-không
Nên hiểu ý nghĩa hai sao này, vì rất quan trọng cho việc đoán trước các chính tinh hay hung tinh khi gặp 2 sao Triệt Tuần

Triệt
triệt thuộc kim đới thủy, là triệt trảm, là chém đứt ra từng mảnh, từng khúc, ngăn chặn ra, phân ra không để cho liền lạc với nhau.
Tuần
Tuần thuộc hỏa đới mộc là vây hãm lại, bao chặt lấy. Nên Mộc, Hỏa, Kim là 3 hành khi gặp phải Triệt Tuùan rất quan trọng,không còn quyền uy,khả năng hữu hiệu, trái lại còn u tối đi nữa là tuỳ theo vị trí miếu hãm của các sao .
Thí dụ : Thất -sát Dần Thân là nhất sinh tước lộc vinh hoa, tứ phương cũng phục anh hùng, nhưng gặp phải Triệt Tuần là kiếm gãy.
ở Tử Vi triệt tuần đóng thuộc vị trí 2 cung , nhưng các sao khác chỉ ở 1 cung.
Vậy phải xem xét triệt tuần ảnh hưởng cung nào nặng cung nào nhẹ, phải căn cứ vào Âm Dương lý theo định luật sau đây :

Ðịnh-lý Triệt Tuần
Triệt tuần theo định lý phân chia ảnh hưởng theo cung
               Dương hành tam thất (3/7)
               ÂM quy nhị bát (2/8)
Thí dụ : Triệt tuần ở 2 cung Dần Mão
1)      Người sinh thuộc Dương thì cung Dần ảnh hưởng 7 phần cung Mão ảnh hưởng 3 phần.
2)      Thí dụ cũng 2 sao Triệt tuần ở 2 cung Dần Mão.
Người sinh thuộc Âm thì cung Mão chịu ảnh hưởng 8 phần cung Dần chịu ảnh hưởng 2 phần.
Do thế, cũng một Triệt tuần mà cung Mạnh của người Dương ở cung Dần thì bị hại lớn vì chịu 7 phần nếu ở cung Mão thì chịu 3 phần.
Trái lại cung Mạnh của người Aâm ở cung Mão lại chịu 8 phần, nếu ở cung Dần chỉ chịu 2 phần ảnh hưởng thôi.

Triệt Tuần Quy Lý Âm Dương
Âm dương rất quan trọng để xét Triệt tuần vì dương thuận mà âm nghịch
1) Thí dụ : người Dương theo định luật thuận khởi Mạnh cư cung Dần , mà Triệt tuần cư Dần Mão là bị Triệt tuần chậm lại, vậy lại, cản trở không đi được vì Triệt tuần ở phía trước mặt.
Mạnh cư cung Mão là Triệt tuần ở phía sau lưng , nên ít bị cản trở.
2)       Nên trong Phú đoán có câu :
      - Triệt tuần dương đầu, thiếu niên tân khổ, mà trái lại không thấy lao tâm khổ trí, lại vẫn phát sinh phú quý, tọa hưởng kỳ thành nhung lụa.
3) Tướng quân ngộ triệt trước miền, ra đường gặp giặc mình liều tan thây.
     Nếu người Dương-mạnh ngồi cung Mão có Tướng quân Triệt, thời Triệt kia đâu có đủ sức mà làm hại Tướng-quân, vì Triệt ở sau lưng ông Tướng-quân.
Nhưng nếu người Aâm gặp Tướng quân ngộ Triệt mà Mạnh cư cung Mão, ấy là Triệt cản Tướng-quân,vì triệt ở phía trước mặt nên phú đóan rất hay vì Tướng- quân kia không cụt cũng què.

Tam hành kỵ Triệt tuần
1) Những sao thuộc ba hành Kim, Hỏa, Mộc, là 3 hành rất sợ Triệt tuần
Ví như sao Mộc là cây mà gặp Thổ
            Sao Kim mà gặp Hỏa
            Sao Hỏa mà gặp Thủy
Sẽ bị khắc chiết mà hết ảnh hưởng.
2) Theo định lý Tử-vi thì:
Sát Phá Tham tối kỵ Triệt tuần
Vì sao Thất Sát thuộc Kim
Và Tham lang thuộc Mộc
Còn sao phá-quân thì ít sợ Triệt tuần, vì Phá-quân thuộc Thủy.
3) Tử Phủ Vũ Tướng không sợ Triệt tuần lắm vì Tử Phủ cách, thiên sang hành thổ nhiều hơn.
    Riêng sao Thiên Phủ là kho lẫm, thì sợ Tuần mà không sợ Triệt lắm
Vì ngộ triệt thì chỉ bị trộm cắp, sứt mẻ ít thôi, nếu ngộ Tuần là kho rỗng.
Cũng như sao Vũ-Khúc sợ Triệt tuần, vì Vũ Khúc thuộc Kim. Riêng hai Hành Thổ và Thủy thì ít sợ Triệt tuần hơn

Triệt tuần ảnh hưởng các cung xung hợp
1) Các cung xung hợp chịu ảnh hưởng nặng nhẹ của Triệt tuần cũng phải căn cứ vào Âm Dương mà luận.
2) THÍ DỤ : Dần, Mão, Thân, Dậu là 4 cung xung chiếu mà Triệt tuần cư Dần Mão người Dương thì cung Dần Dương chịu 7 phần chiếu sang cung Thân Dương phải chịu ảnh hưởng nặng.
- Cung Mão chỉ chịu ảnh hưởng có 3 phần, cung Dậu chiếu thuộc Aâm, nên chỉ chịu ảnh hưởng chút đỉnh mà thôi.
3) THÍ DỤ : Dần Mão Thân Dậu xung chiếu nhau
                 Triệt Tuần cư Dần Mão
-       Người Âm quy Mão thuộc Âm chịu ảnh hưởng 8 phần, chiếu sang cung Dậu (âm) chịu ảnh h ư ởng n ặng.
Cung Dần (dương) chịu 2 phần, chiếu sang cung Thân (dương) thì ảnh hưởng không còn bao nhiêu.
4) Phải tùy thuộc vào Âm hay Dương mà định ảnh hưởng.
-       Người sinh Dương thì các cung thuộc Dương xung chiếu hay tam hợp chịu ảnh hưởng nhiều.
-       Người Âm thì các cung thuộc Âm xung chiếu hay tam hợp chịu ảnh hưởng nhiều.
Hung cát của Triệt Tuần
1) Luận về tinh đẩu thời không 1 sao nào ảnh hưởng quyền năng hung cát có thể lớn như 2 sao Triệt Tuần.
         Nên Triệt Tuần cư 2 cung, chiếu 2 cung, lại còn ảnh hưởng ở các cung xung chiếu, và tam hợp nữa.
Tam phương cung
2) Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng.
Là 3 cung tam hợp có các sao ác sát.
Hay là 3 sao chính tinh hãm địa Sát, Phá, Tham rất xấu, tối kỵ, nhưng khi gặp được một sao triệt cũng khá bình yên được.

Tứ chính cát
3) Sao Tuần là Tuần không cũng phá được hết các sự tốt đẹp.
        Nếu tứ chính giao phù là Mạnh, Quan, Tài, Ri có sao tốt hợp Lộc cách mà gặp Tuần cũng phá hết tốt.
           (Tứ chính giao phù kỵ nhất Không chi trực phá) là vậy.

Đảo nghịch của Triệt Tuần
1) Hai Sao Triệt Tuần ví như bộ thắng của chiếc xe hơi, khởi hành mà thắng lại thời đi sao được, xe đang chạy vùn vụt, thắng lại là yên ngay.

2- Nên 14 chính tinh, kể cả các sao ác sát, cư nơi miếu địa, mà gặp Triệt Tuần là hết ảnh hưởng.
3- Chính tinh cư nơi hãm địa thời ảnh hưởng thật dữ, nhưng nếu gặp Triệt Tuần thì trái lại là tốt.
4- cũng như các sao hung sát nhập miếu, thời ví như người làm giặc nhưng lại thành công là cách hung tính nhập miếu, phát dã như lôi, lại không nên gặp Triệt Tuần.
5- Nên ở phản định lý có câu:
Nhược phùng bại địa chuyên khán phàu trì chi diệu, định hữu kỳ công.
Là sao chính tinh cư nơi hãm địa mà gặp được Triệt Tuần thì ngược lại là tốt, sẽ lập được công nghiệp rực rỡ, là kỳ cách vậy.
Thí dụ: Không một sao nào xấu hơn sao Liêm-trinh và Tham-lang cư ở 2 cung Tỵ Hợi, phú đoán đã có câu:
-       Liêm-tham Tỵ Hợi, hình ngục nan đào.
-       Liêm-Tham Tỵ Hợi khôn bàn, chàng Tiêu thuở trước tân toan ngục hình.
Là Liêm Tham Tỵ Hợi thì hạ tiện, không tránh đựơc tai nạn, ra vô chốn ngục tù, nhưng nếu gặp được Triệt Tuần thì ngược lại là người phú quý, văn võ song toàn.
Tất cả các tính lý hung hãn, ngục hình không còn, và sự quý hiển hoặc thiên sang văn hay võ là tùy theo các sao phù mà nhận xét.
Thời gian của sao Triệt Tuần
Tam thập niên tiền quan Triệt
Tam thập niên hậu khán Tuần.
Hai sao Triệt hay Tuần đều có ảnh hưởng cả cuộc đời nhưng sao Triệt tác động mạnh mẽ nửa cuộc đời trước, cũng như Tuần, ảnh hưởng mạnh nửa cuộc đời sau.
Phải nhận xét nếu Tham Liêm gặp Triệt, nửa cuộc đời trứơc được bình an, nhưng nửa đời sau sẽ lâm nạn.
Liêm Tham gặp Tuần nửa  cuộc đời sau sẽ tốt không sợ hung hãn.
Nguyên tắc chung của 2 sao Triệt Tuần, với thời gian tính, ví như người mắc bệnh lao, tuy chữa khỏi bệnh nhưng sau đó cũng bị giảm sức khỏe, và vẫn phải phòng sự tái phát của bệnh.

Bộ sao Tả-Phụ, Hữu Bật

Tả-phụ là dương thổ Bắc đẩu tinh
Hữu-bật thuộc âm thổ Nam đẩu tinh.
1- Đối với đẩu-số hai sao này rất cần thiết ví như 2 hàng văn võ của một ông vua.
  - Tả-phụ thuộc hàng văn, bàn tính mưu cơ chiến thuật, nên chữ Hán viết chữ phụ có chữ xa (là xe) tức là ngồi cùng một xe với ông vua để giúp về kế hoạch, ông vua cũng chỉ có thể ở chung với quan văn mà thôi,nên sao Tả-phụ đồng cung với Tử-vi là tốt.
  - Sao Tả-phụ đồng cung với Thiên-phủ ở Tuất, là tả-phủ-cách, thượng cách vì Thiên phủ miếu ở Tuất mà Tả-phụ cũng miếu ở Tuất.
2- Sao Hữu-bật thuộc hàng võ quan, nên chữ Hán viết chữ bật có bộ cung, tức là cung tên (một thứ võ khí). Đã là võ tất phải đi bên ngoài mà đánh đông dẹp bắc, không nên ở cung một cung (ví như 1 nhà) với ông vua được, vì hàng võ bao giờ tính nết cũng cương cường, có thể đoạt ngôi giết chúa, thường lộn xộn không thâm trầm như các quan văn.

Phương vị của Phụ-Bật
3- Khi thiết triều thì văn tả, võ hữu, khi hành sự thì văn nội võ ngoại, trái đi là không hợp cách.
Luận đoán tinh đẩu cần xét xem Phụ Bật có cư đúng vị trí không.
4- Thí dụ : như một người có hai tay tả hữu, đúng theo Tạo hóa xếp đặt, cùng úp lòng bàn tay vào đùi cả, trái lại nếu đem tay trái qua phía tay mặt và đem tay mặt qua phía tay trái thời sẽ ra sao.
5- Nên phương vị của hai sao Phụ Bật cũng 1 lý do đó, và Tả-phụ thuộc văn đâu có đi ra ngoài để đánh đông dẹp bắc được cũng như võ đâu có thể ở trong cung để thiết mưu định kế được.
6- Vì vậy nên Tả Hữu miếu địa ở 2 cung Thìn Tuất cho ngừơi sinh tháng giêng tháng bảy vì một sao ở trong và 1 sao ở ngoài.
Và vượng địa ở hai cung Sửu Mùi cho người sinh tháng 4, tháng 10 vì 2 sao Tả Hữu đồng cung ở 2 cung Sửu Mùi.
7- Phương vi của hai sao Phụ Bật rất cần với cách giáp biên nhất là ở Sửu Mùi.
8- Về cách giáp biên, phải tùy theo Mạnh ngồi cung nào xét xem Tả Hữu có hợp phương vị không, nếu trái lại là không hợp, cũng ví như văn ở bên võ, mà võ ở bên văn thời tuy giáp Phụ bật nhưng sẽ gặp rất nhiều sự xáo trộn trong cuộc sống.

Tả Hữu tòng hung diệt
9- Hai sao Tả Hữu nếu cư đồng cung ở Sửu và Mùi, nên xem ngay trong cung có sao cát tinh miếu vượng, hay ác sát không vong mà phân định hung cát của Tả Hữu.
Thí dụ như trong cung có sao Địa-kiếp Thiên không hãm thì sao Tả Hữu sẽ nhập đảng ngay với bọn hung tinh này, mà tác hại khủng khiếp ngay, ví như Địa-kiếp là tương cướp lại thêm hai ông tướng Tả Hữu nhập bọn nữa, thì ảnh hưởng tai hại hung hãn thật trở tay không kịp,  là cách tống hung diệt.
Tả Hữu tòng cát phù
10) Thí dụ trong cung có sao Lộc sao Quyền đồng cung với Tả Hữu, là Tả Hữu sẽ nhập bọn cùng Lộc Quyền, mà tăng gấp sự tốt đẹp của Lộc Quyền kia lên.
      Lộc Quyền mà gặp Tả Hữu đồng cung, ví như nhà toàn ngọc toàn vàng, đây là cách Tả Hữu tòng phù cát.
Tả hữu giáp biên hung cát
11) Cùng một định lý này áp dụng cho cách giáp Biên. Khi  đã xét qua đồng cung,thời sự hung cát của cách giáp biên cũng thế.
- Thí dụ Tả Hữu giáp biên ở Sửu Mài, mà trong cung có Kiếp Không, thời Tả Hữu sẽ nhập bọn cùng Lộc Quyền để tăng thêm sự tốt lành của Lộc Quyền.
Nên theo định lý này để phân định tinh tường mà luận xét, tại sao Tả Hữu đồng cung là nhất hô bá nấc là tôn cư vạn thặng mà hô lên không có quần thần văn võ đáp lại thì chỉ là một chú cai thâầ hay một ông tướng cứơp.
Và giáp Tả giáp Hữu quý vô nghị, lại không gần vua, gần chúa, hội họp ở chốn triều đình, và chỉ là một sự kết phe họp đảng của một bọn cướp hay một bọn du đãng khét tiếng mà thôi.
Bởi thế nên mới phân biệt đâu là quần thần khánh hội cách, cùng với các giáo sư, bác sĩ, cô mụ nhà hộ sinh, ông thương gia, chú du đãng, hay là một tướng cướp tuỳ theo vị trí, tính chất các tinh tú cư chiếu, mới phân biệt minh bạch được.
12) Vị trí ta thấy co lính mang vũ khí, thời nên luận đoán với một nhà quyền quý ở cao tốc, biệt thự nguy nga, và kẻ gác nhà tăng vẻ uy nghiêm cho nhà quyền ấy.
Trái lại với 1 ngừơi dân nhà lá, nhà tôn, thời người lính mang võ khí tới để xích tay điệu về ngục lãnh tội.
Bộ sao Long Tri Phương Các
Long-Tri thuộc Thủy
Phượng-các thuộc mộc đới kim
Là đài-các tinh, là văn tinh
Chủ sự vui mừng, cừơi hỏi, thi cử
Phù trì chủ Nhật Nguyệt là hợp cách
Đi với Quý Ân là cách kim bảng đề tên
Nếu cùng với Hỷ-thần, Riệu Y, Hình, Kỵ hội họp là đồng tính chất, tăng thêm hỷ sự, đài các nguy nga, văn chương siêu việt.
Ví như rồng có vẩy, có vây, râu, móng tỏa ánh hào quang.
Như phuợng có bộ lông rực rỡ, nhảy múa dưới ánh mặt trời.
Cách giáp biên và đồng cung ở Sứu Mùi, cát phù hung diệt, cũng một định lý như trên mà luận đoán.
Ngoài Thân Mạnh ra Phượng Long cư cung Điền-trạch là hợp cách.
Khảo sát phú đoán
Ở phú đoán có câu :
Phượng Long Mão Dậu đôi miền
Vượng thì kim bảng đề tên ở đầu
Sao Long-trì khởi thuận tại cung Thìn
Phượng-các khởi nghịch tại cung Tuất
Không bao giờ hai sao này ở đối cung Mão Dậu được cả, chỉ có thể đồng cung ở Mùi với người tuổi Mão.
Đồng cung ở Sửu với ngừơi tuổi Dậu.
Câu phú đoán ngày minh chứng cho thấy ngừơi tuổi Mão, Dậu, Phượng Long miếu địa ở Sửu Mùi, nếu gặp được các văn tinh khác hội họp tất sẽ thi đỗ cao. Vậy không nên lầm lẫn sang 2 cung Mão Dậu với người tuổi Mão Dậu.
Bộ sao Tam-thai Bát-tọa
Tam-thai thổ
Bát-tọa thổ
2 sao Thai Tọa miếu địa ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
Nếu giáp biên mà trong cung có Kiếp Không, thì là nhà rách vách nát, hoặc ở xóm lao động, xóm bình dân chứ không là nhà cao cửa rộng được.
Lại như Dương Đà, hung sát hay 2 sao Xương Khố là chủ sự buôn bán,  kỹ nghệ, kho lẫm tức là nhà ở đầu góc phố hay là sự buôn bán ở trong chợ, song ngày nay đầu đường xó chợ mới là nơi thị tứ, buôn bán phát đạt được.
Nếu trong cung điền-trạch có cát tinh miếu vượng, hay Khoa Quyền Lộc tất nhiên là nhà cao cửa rộng, ruộng vừơn tít cánh cò bay.
Cũng như : Mộ kiêm Thai Tọa văn mô vũ lược kiêm ưu,
Ở mạnh phải tuỳ theo cát tinh hay ác sát mà luận đoán, cát tinh cư đồng cung với Thai Tọa là người mưu lược mà khoan hậu trung lương, trái lại nếu cư đồng cung với Không-vong ác sát là kẻ mưu quỷ chứơc thần, gain xảo lừa bịp chính hiệu.
Giáp Bát-tọa giáp Tam-thai.
Thiếu niên đã dự các đài nghênh ngang.
Cũng 1 định lý cát phù hung diệt mà đoán là được ở các đài phủ nọ, phủ kia, nhà buôn bán kỹ nghệ, hay là nhà là nhà gianh.
Nên cũng đồng cung, cũng giáp biên cách mà phân biệt được ngươi giàu có vàng chôn ngọc cất, mà kẻ kia chỉ là bà đếm tiền ở ngân hàng, ông gác cửa kho bạc.
Bô sao Ân-Quang Thiên-Quý
Ân-quang thuộc hỏa
Thiên-quý thổ
Quý Ân miếu địa ở 2 cung Sửu Mùi
Quang Quý là bộ sao Phụ Bật, Xương Khúc, Thai Tọa là tăng thêm sự tốt đẹp sáng sủa của các sao này.
Quang Quý phù trì cho cách nhật-nguyệt hợp hơn các cách khác.
Quý Ân là bộ sao phúc thiện, giải trừ được hung họa mà không sợ các hung sát tinh.
Bộ sao Đào-hoa, Hồng-loan
Đào-hoa mộc
hồng-loan mộc
đào-hoa, Hồng-loan miếu ở Tý, vượng ở Mão
Hai sao này cư ở Quan-lộc hợp cách nhất.
Cung Quan-lộc mà gặp được Hồng Đào thì đường hoạn lô nhẹ bứơc thang mây, không phải bôn ba cầu cạnh, dù thương mại hay kỹ nghệ cũng vậy, nếu không có Hồng Đào thì khó mà làm nên cơ nghiệp, dù có làm nên cũng không thể lớn lao được.
Nếu hợp với Thiên-hỷ, Hỷ-thần thành bộ tam minh, thì hỷ sự đến trùng trùng.
Đào-hoa Hồng-loan không nên ở Mạnh, vì tính dâm và huê nguyệt.
Nhất là Nữ-mạnh càng không nên gặp Hồng Đào.
Đào-hoa cư Tý Mão nếu ngộ Thiên-không ví như cây đào bị cháy vì Thiên-không thuộc hỏa.
Đào ngộ Không là bán thiên chiết sý, tức là chim bay lưng trời gãy cánh.
Nếu ở Mạnh Thân Quan Tài là cơ nghiệp sẽ bị đổ vỡ nhưng Không Đào cư Mạnh là người cơ mưu, trí lược.
Bộ sao Văn-Xương Văn-Khúc
Văn-xương bắc đẩu tinh, dương-kim
Văn-khúc nam đẩu tinh, âm-thủy
Vượng ở Sửu Mùi Thìn Tuất Tỵ Dậu
Chủ Văn chương, khoa giáp, mỹ thuật, ca vũ.
Hãm địa chủ gian xảo, đa hư thiểu thực.
Ngộ Lộc-tồn Kinh Kỵ là nghề thầy cúng, hát châu văn, các ban nhạc kèn trống của các đình chùa.
Nữ-mạnh không nên gặp Khúc-Xương.
Hội  với Hình Kỵ, Quan Phúc là người ưa thích về đồng bóng và tính tình thường ưa đổi thay.
Hội với Riêu Y là cách dâm bôn.
Hội vời Riêu Hỏa, Linh, Hình thường trong giấc ngủ mơ thấy chuyện tình nên phú đoán có câu: Khúc Xương ấy gái chẳng lành. Vườn hoa ong bướm hiệp tình tung tăng.
Nam Nữ-mạnh Văn-xương ngộ kỵ đều là cách giảm thọ.
Bộ sao Thiên-Khôi Thiên-Việt
2- Thiên-Khôi nam đẩu tinh dương-hỏa đới mộc
Thiên-việt nam đẩu âm-hỏa đới kim
Đệ nhất tôn vinh quý tinh
Chủ văn-chương, khoa giáp
Quyền tứơc mà mô phạm
Thường được sự kính trọng của mọi người, nên được tôn là Thiên-ất quý nhân thần.
Tính tình cao thượng, phúc đỉnh mà thanh khiết.
quyền uy hiển hách mà nghiêm nghị
Nhà quyền quý không có Khôi Việt thì không được sự kính trọng của nhân dân, vì thiếu thiên uy.
Khôi là bằng sắc
Việt là bút nghiên.
2- Hãm địa là con dao, lá chắn vũ khí búa rìu của kẻ ăn cắp. Khôi Việt tối kỵ ngộ Tuần Triệt, là cách quý tinh ngộ Không. Nên Khôi Việg (Quý) mà ngộ Không (Tuần triệt) là bằng cấp, ấn tín rách nát coi như không có.
Nên ở phú đoán : Quý phùng Không xứ ai làm cho nên Việt Khôi hãm tối kỵ Ngộ Hỏa, Linh, Hình tất sẽ bị tai nạn kinh khủng như sét đánh, điện giật, hỏa tai.
1- QUY ĐỊNH CỦA KHÔI VIỆT.
2- QUÝ TINH MIẾU ĐỊA CÁCH.
3- Cung Ngọ ví như Thiên-đình của Ngọc Hoàng, cung điện của nhà vua chúa bao giờ cũng chính ngọ cả, nên ta thừơng nghe nói cửa ngọ-môn là cửa chính, thường là nơi yết bái các sắc lệnh chiếu chỉ của nhà vua, cũng như ngọ cung là nơi cao nhất nên Thiên-khôi miếu ở Ngọ là ý nghĩa ấy.
Thiên-khôi hỏa, Ngọ cũng thuộc hỏa nên người được cách Khôi Việt thì văn chương siêu việt, tính tình thanh khiết uy nghiêm, được mọi người tôn kính, song nếu Khôi ngô Triệt Tuần là ngọ Không thời học không thành mà thi cử khoa trương lận đận không đỗ đạt cao được.
Quý tinh vượng địa cách
                                 4) Nhâm Quý thố xà tang
                                Người sinh tuổi Nhâm Quý
                                  Thiên-khôi vượng ở Mão
                                   Thiện việt vượng ở Tỵ.
Cung Mão là cửa của nhà trời, là nơi đi lại, nhập xuất của các long thần Lục-Đinh, Lục-Giáp (Thần coi về trận đồ) Luật Ninh thần (thần sấm xét) nên Thái-dương cư Mão là cách nhập xuất lôi môn là ý nghĩa ấy.
Thiên-khôi Việt vượng ở Mão Tỵ không nên gặp Triệt Tuần, nếu gặp thời bằng cấp không cao và học hành  cũng dang dở.
Quý tinh hãm địa cách
5) Thiên-khôi, Thiên-việt ở Sửu Mùi.
Bằng cấp chiếu chỉ là tôn quý.
Cung Sửu là trầm và thổ, là đất bùn sình, là nơi tăm tối, tối, ví như bằng cấp bị chôn vùi xuống đất.
Khôi Việt ở hai cung Sửu Mùi là hãm địa nên ngược lại cần gặp được Triệt Tuần ví như con đường cái quan được yết bảng chiếu chỉ, ví như ông nghè vinh quy vậy.
Nên ở Sửu Mùi không gặp được Triệt Tuần để khắc chế Khôi Việt thời không thể đỗ cao hay văn chương hiển đạt được.
6) Hai cung Tý Hợi là đại hải thủy (đại dương).
Đối chiếu với Ngọ là cổng tiền thì Tý Hợi là cổng hậu nên bằng cấp chiếu chỉ không bao giờ yết bảng ở cổng hậu cả, nên cần gặp được Triệt Tuần tuỳ theo ngũ hành để đạt được sự học hành và bằng cấp cao.
Khôi Việt được tôn là Thiên-ất quý nhân thần, ở phương tôn quý thì quyền uy, văn chương thanh hiển, người người sủng ái, ở nơi hãm địa ngộ ác sát lại hoá ra tai ương cần có sự khắc chế.
Nên cũng Khôi Việt mà thành nghề đồ tể, thợ rèn tay cầm giao búa khéo léo, hay là sẽ hứng chịu tai nạn.
Bộ sao Thai-phụ Phong-cáo
Thai-phụ thuộc thổ
                                          Phong-cáo thổ
Chủ bằng sắc ấn tín, các nha sở, thư viện, văn tịch, các phủ khố lưu trữ tài liệu.
Hội với bộ Binh, Hình, Tướng, Ấn, chủ chấp chưởng binh quyền.
Ở phú đoán : Ấn mang vị liệt công hầu.
Sao lành Tướng Cáo đóng vào mạnh-viên.
Rất hợp với cách Sát, Phá, Tham.
Sao Thiên-Mã
                                        Thiên-mã thuộc hỏa
                                        Miếu địa ở cung Dần.
Vì là dịch-mã nên tuỳ theo mạnh thuộc hành nào.
Thiên-mã đổi ngũ hành theo phương vị.
Mã cư ở Mạnh-cung hợp với ngũ hành của Mạnh mới là Mã của mình.
Nên tại sao Thiên-mã là người mẫn tiệp, lợi khẩu giỏi về ngoại giao, mà sao cũng Mã lại ù lỳ, ngôn bất xuất khẩu.
Phương vị và ngũ hành của Thiên-mã
1) Thiên-mã cư Dần là thanh-thông mã, là trạng-nguyên chi mã.
Người mộc, Mạnh cư cung Dần là hợp cách.
2) Thiên-mã cư Thân là bạch-mã, hay là tể-tướng mã.
Người kim-mạnh cư cung Thân là hợp.
3) Thiên-mã cư Tỵ là xích-thố mã, hữu vị thủ-án mã. Người hỏa, mạnh cư cung Tỵ là hợp cách.
4) Thiên-mã cư cung Hợi là ô-truy mã, hữu vị ngự-sử mã. Người thủy, thổ, Mạnh cư cung Hợi là hợp cách.
5) Mã ngộ Tràng-sinh, Khốc Khách ví như ngựa có yên cương có nhạc khua vang, chạy trên đường thiên lý, nên được cách là Thanh vân đắc lộ.
6) Lộc Mã giao tri là ngựa được thả vào cánh đồng cỏ, sẽ tha hồ mà ăn, để chỉ người buôn bán, kinh thương, hoặc nguời quyền quý không phải nhọc nhằm mà lộc cứ đổ về như nước triều dâng.
Nên ghi nhớ Mã đổi phương vị là đổi ngũ hành. Nên tại sao Mã Lộc mà người văn chương cự phú, cũng Mã Lộc lại bôn ba lận đận, chẳng qua vì mã ấy không hợp với mình.
Cũng như ngựa cột trong chuồng, mà cỏ bỏ ngoài sân may mắn lắm rút được năm ba ngọn cỏ dài, cỏ đâu mà ăn được cả bó cỏ, nên cả đời lo nghĩ tiền mà tiền không tới tay đôi khi lại vì tiền mà mắc luỵ nữa vậy.
Sao Hoa-Cái
Hoa-cái thuộc mộc
Vượng ở cung Thìn Mùi.
Hoa-cái là cái lọng, cái dù là nghi vệ dùng để che cho các nhà quyền quý khi kinh-lý cho thêm phần long trọng. Các cuộc kinh lý thường thi hành vào buổi sáng ban ngày, giữa thanh thiên bạch nhật, nếu thực hiện vào đêm tối là không thuận lý.
Hợp với Thiên-mã thành cách gián biên, tiền Cái bâu Mã, là cách chấp chưởng oai quyền đi đâu có tiền hô hậu ủng.
Thí dụ một ông đại-tướng đi đâu thì có tùy tùng hộ vệ, còi hú đi trước dẹp đường, nhưng cũng đi ban ngày mới là thuận lý.
Sao Thanh-long
Thanh-long thuộc thuỷ
Miếu vượng ở Tý, Hợi, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
Chủ sự vui vẻ, bặt thiệp, hỷ sự, hôn nhân, thi cử.
Thanh-long miếu vượng tượng là rồng.
Những hãm địa chỉ là con rắn đất.
Hội với Hoá-kỵ là long vân khánh hội cách, ví như rồng gặp mây.
Hội với Lưu-hà là thanh vân đắc lộ, ví như rồng gặp nước vùng vẫy trong bể cả.
Hội với Long-đức là cách song Long.
Song Long cư Thìn là cách Long nhập uyên (rồng vào vực).
Song-long hội với Kỵ Hà thời công danh tài lộc, không tính trước và cầu cạnh vất vả, mà tài lộc sẽ vô vong tự thành, bất cần sở đắc, nếu gặp cát tinh thời sẽ được hiển đạt lớn lao.
Cung Thìn mà gặp được Song-long cách thì thật là phú quý song toàn, an nhàn toạ hưởng, nếu ở cung Phúc-đức tất con gái sẽ thành vương-phi.
Người sinh tuổi Giáp Đinh là hợp cách.
Nữ mạnh : Nữ-giới gặp cách Long Kỵ Hà cư Thìn thì dáng người thanh tú, xinh tươi, con nhà khuê môn lệnh tộc, tất giỏi giang về ngoại giao, mà kinh doanh là tay cự phách, làm nên tài lộc nước chảy bạc dòng, lại thêm vượng phu ích tử.
Sao Hoá-kỵ
Sao hóa-kỵ thuộc thủy
Miếu địa ở Tý Hợi.
Vượng địa ở Dần Thân Mão Dậu, dư lại các cung là hãm
1) Kỵ hãm địa là con rắn đất, tượng là chén thuốc đắng.
Miếu địa ví như rồng hay kỳ-lân ở dưới biển cả, tha hồ vùng vẫy, nên cũng như sao Phá-quân được phê là thủy bà đại hải cách (sáong gầm bể cả).
Ở nơi miếu địa thì phùng thời, phát đạt, tăng thêm quyền quý.
2) Cư Mùi mà Nhật Nguyệt ở Sửu chiếu lên, hay cư Sửu mà nhật Nguyệt ở Mùi chiếu xuống là cách tường vân ấp nguyệt.
Cách này vì như nhật nguyệt tỏa ánh sáng, mây kia chịu lấy mà thành năm sắc, nhưng cũng vần phải có Xương Khúc nữa mới được toàn mỹ.
3) Hoá-kỵ hãm địa chủ ghen ghét, giận hờn, chiêu lấy thị phi, tai họa.
Ở mạnh là người oan nghiệt, làm ơn nên oán, hình khắc cô đơn.
ngo65 Riêu Y  là người đắm đuối tửu sắc, ham mê ẩm thực.
ngộ Song Hoa thì đam mê cờ bạc.
Ngộ Linh Hỏa thì ghiền ma tuý nặng.
Gia hêm Hình nữa thì vì đam mê mà lâm nạn, hình phạt ngục tù.
4) Hoá-kỵ miếu ở cung Quan-lộc thì phát đạt lớn, ở Quan-lộc hội với sao Tấu-thư, ở các cung Dần Mão, Thân-Dậu là người làm việc bàn giấy, hay giữa các công việc về vi bằng biên bản mà phát tài.
        Hội với Lộc-tôồ thường là các tay buôn lậu rất
5) Nữ-mạnh tối ố Hoá-kỵ hãm địa, nếu gặp thời dâm tiện, khó giữ được lòng trinh chiíh, năng chiêu thị phi mà suốt đời chỉ là xướng kỹ hay tỳ thiếp mà thôi.
Sao Lộc-tồn
Lộc-tồn thuộc thổ
Miếu địa ở Cung Tý Ngọ
Vượng địa ở cung Dần Thân.
1) Lộc tồn phải tuỳ theo vị trí các cung và các sao giáp mà luận xét cát hung.
Vì luôn luôn Lộc-tồn có 2 sao giáp là Dương Đà.
Thí dụ: Tại sao ở phú đoán lại nói, Lộc-tồn thủ Mạnh vi khất cái (sao Lộc-tồn ở Mạnh là cách ăn mày). Là vì Lộc tồn không nên cư đơn độc ở trong cung vì luôn luôn Lộc-tồn bao giờ cũng có 2 sao Kinh Đà đi kèm, đó là  Lộc-tồn đã bị cách giáp Kinh giáp Đà rồi.
Nếu ở trong cung Lộc-tồn ở cùng Địa-kiếp nữa thì thành cách khất cái vì Dương Đà giáp kia sẽ hội luôn với Địa-kiếp mà tác hung tác hại.
2) Ngược lại nếu trong cung Lộc-tồn hội đồng cung với Quyền  Lộc hay Khoa hay Lộc-tồn lại giáp Khoa giáp Quyền là cách xuất thế vinh hoa, đôồg cung với Lộc là Cự vạn chi tài, là đôi kim tích ngọc (vàng chôn, ngọc cất).
Hay giáp Quyền giáp Lộc là kim ngọc mãn đường cách (vàng bạc đầy nhà) vì 2 chú Dương Đà kia đã trở thành tay đại võ giúp đỡ đắc lực và giữ gìn của cho chủ.
Nên quy luật cát phùng hung diệt đương nhiên là căn bản bất di bất dịch để phân minh.
Bộ sao Tam Hóa
Hóa-lộc thuộc thổ
Hoá-quyền thuộc mộc
Hoá-khoa thuộc thuỷ.
Ba sao Lộc, Quyền, Khoa khi ở 3 cung liên tiếp nhau ví như 3 viên ngọc, khi xa nhau thì sức sáng ít, nhưng khi hợp lại thì tỏa sáng rực rỡ nên có cách Tam Hoá liên châu, là cách tốt nhất gồm đủ phú quý văn võ nếu cư cung Quan-lộc.
Đông và Tây vị
Phân Âm Dương cách Liên Châu
Cách Tam-hoá liên châu miếu địa ở các cung Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi.
Ở 3 cung Dần, Thìn, Ngọ có Tam Hoá là thượng cách, vì 3 cung Dần, Thìn, Ngọ thuộc dương cung.
Ở 3 cung Mão, Tỵ, Mùi cách Tam Hoá kém đi một bậc.
Tam-hóa là 3 viên ngọc quý thời phải bày biện ra nơi cao quý thuộc ban ngày, không ai bày ra để chơi nơi tối tăm hay là bày ngọc ra ban đêm để ngắm nghía cả, vì lý do đó mà ở cung dương là thượng cách, ở cung âm là kém đi, trái lại ở thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý là hãm địa vì thuộc tây-vị âm có cách Tam-hóa ở các cung toàn âm như Dậu Hợi Sửu, bên tây-vị thời sự phù trì của Tam-hóa ảnh hưởng rất ít, nên học hành kém, và không làm nên hiển đạt được, là vì các cung bên tây thuộc âm, lại 3 cung Dậu Hợi Sửu lại là âm của âm vị.
So sánh thủ chiếu của Lộc Quyền Khoa
3 sao này 1 thủ 2 cư ở cung tam hợp chiếu là tốt nhất.
Thí dụ : 1 thủ Mạnh, 1 ở Quan-lộc và 1 ở tài-bạch.
Ba sao này ở nơi miếu địa đi theo phù trì có cách Tử-Phủ, Sát Phá, Cơ Lương, Nhật Nguyệt ví như quân thần khánh hội cách, đôi khi không cần đến Tả Hữu Thai Tọa hay Khúc Xương,và bộ Tam-hóa là kiêm gồm cả văn võ, phú quý, mưu trí toàn năng.
Vô chính diệu và Tam-hóa
Riêng đối với cách vô chính diệu mà có trug tinh nhập miếu ở cung Mạnh, thời Tam-hóa nên ở tam phương Quan Tài, Ri củng chiếu mới hợp, vì trong cung Mạnh có hung tinh độc thủ, nếu hội họp với Tam-hóa đồng cung sẽ bị khắc chế mất uy lực của Tam-hóa, vì vậy Tam-hóa không nên cư đồng cung mà nên củng chiếu.
Hỏa-khoa tuy mưu lược nhưng cũng thiên sang văn tinh, Lộc tối kỵ lạc Không-vong.
Quyền đi với cát phú cát, mà hội với hung thời hóa hung, ba sao này tốt đẹp rực rỡ vô kể khi ở miếu địa, nhưng lại rất yếu ớt với các sao hung sát.
Ở Tử-vi 3 sao này đã được ví như là miêu nhi bất tú cách, miêu là lúa, mì là giống, lúa, là của ngọc thực rất được quý báu ở thời cổ xa xưa, nếu cây lúa không tươi chẳng những không sinh được hạt mà lại còn bị chết non yểu nữa.
Sao Kình-dương
Kình-dương thuộc kim đới hỏa
Miếu địa ở Thìn Tuất
Vượng địa ở Sửu Mùi.
Kình-dương là Bắc đẩu tinh, chủ hung bạo, thường rĩ oán báo ân, thân sơ không kể, nhưng có hung tính, không quá gian hiểm như Hoả-kỵ.
Nhập  miếu được tôn là thần bút, căn chương quán thế, thần kiếm vì Kình hỏa khí là Hình.
Tuy nói là Thìn Tuất Sửu Mùi Kinh-dương hùng nhưng hoàn toàn hợp cách cho người tuổi Tân ở cung Tuất và người Ất ở cung Thìn là miếu địa, được hưởng trọn cách Kình-dương.
Bính Mậu sinh nhân. Kình-dương cư Ngọ là cách mã đầu đới kiếm, chấn ngự biên cương.
Sao Thiên-Lương
Thiên-lương thuộc mộc, nam đẩu tinh
Miếu địa ở 2 cung Thìn Tuất
Thiên-lương miếu vượng chủ tính tình cao khiết thường có tâm hồn uẩn lương, hậu trong mà hay nhân từ thương xót người, nên gọi là phúc tinh.
Hội với Thái-dương, Xương, Lộc, thời thanh danh vang lừng thường là những bậc quân sư thượng phu.
Ở hai cung Sửu Mùi là hãm địa vì cung Sửu là trầm vu thổ, ruộng xinh, ở cung Mùi là bình dương thổ, nếu gặp được Kỵ đà Riêu hoá khi để nuôi dưỡng cho đại lâm mộc này đủ chất thủy mà sinh tươi tốt.
Nếu gặp thêm được sao Mộ nữa, ví như ở cánh đồng xinh, đồng lúa kia có gò đống lớn lao, ta thường thấy có cây đa cây đề cổ thụ, có bóng rợp che mát, mà trâu bò hay các nông phu, thường nghỉ trưa ở dưới bóng mát đó, sao Mộ ở đây ví như gò đống, để Thiên-lương là mộc sinh trưởng vậy.
Người có cách này là những bậc danh tài văn học. Mặc dầu Thiên –lương ngộ Đà-la, và tuy Đà-la hãm địa là kẻ thị phi khẩu thiệt, song Đà ở đây đã hóa khí văn chương rồi vậy.
Sao Thiên-cơ
Thiên-cơ nam đẩu tinh thuộc mộc
Thiên-cơ chủ sự tính toán linh lợi, uyển chuyển khéo léo, là ngừơi rất sáng ý, tinh từơng, biết tuỳ thời ứng đối, biến dịch, tiên liệu công việc khôn lường.
Song hãm địa là kẻ gian xảo, yếm trá. Cách Thiên-cơ xấu tốt ở 2 cung Sửu Mùi cũng luận như sao Thiên-lương.
Đại-Hao Tiểu-Hao
Song Hao thuộc thủy là bại tinh
Miếu địa ở Mão Dậu
Vượng địa ở Tý Ngọ
Cách song Hao Mão Dậu là chúng thuỷ triều đông, là tất cả các dòng nước đều chảy về phương đông. Bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu là tứ chính thủy nên song Hao miếu vượng ở đó và ở phú đoán rõ ràng gọi song Hao là chúng thủy, là các dòng nước thì tại sao song Hao lại là hỏa như các sách Tử-vi đã ghi. Nên song Hao không thể là hỏa mà là thủy vậy.
Người mạng Thủy Mạnh lập Mão, người mạng Kim Mạnh lập Dậu là hợp cách song Hao.
Song Hao miếu địa cư Quan-lộc thì tốt đẹp bội phần hơn cung Mạnh, nếu hãm địa cùng các hung sát là vi khất cái cách.
Cung Mão Dậu có song Hao tọa thủ, mà cung Mão vô chính diệu, bên cung Dậu Thân có Triệt án ngữ, nếu Mạnh Quan, Tài, lập Mão là thượng cách, vì Triệt đáo kim cung, sẽ khắc cái khối kim sinh ra thành thủy để cho dòng nước là song Hao chảy mãi mãi bất tuyệt, ví như nước đã có nguồn chảy mãi cũng không hết được.
Song-Hao ái ngộ Cư Cơ
Cũng do một lý ấy mà Cư Cơ Mão Dậu là cách phú hữu lâu dài, vì song Hao là giòng nước chảy ra bất tận, nuôi dưỡng Thiên-cơ đại lâm mộc, nếu chỉ đuợc Cự-môn thuỷ hiện hợp với Thiên-cơ thì thuỷ của Cự môn không đủ nuôi dưỡng mãi mãi đại lâm mộc được.
Nên người Bính Mộc, Tân Thuỷ có Cự Cơ Mão Dậu là thượng cách.
Song Hao tối hiềm Hoá-lộc
Song-Hao ái ngộ Cự Cơ vì có sự tương qua về ngũ hành sinh hóa với Cự Cơ, nhưng lại tối hiềm sao Hóa-lộc.
Song-Hao thuộc thuỷ nên thù ghét Hóa-lộc là chí lý vì hội với Lộc thì cái thổ của Lộc sẽ khắc chế, hút hết thuỷ của song Hao rồi.
Hơn nữa thổ của Lộc chẳng những hút hết nước của Cự-môn thủy, mà ngay mộc của Thiên-cơ, sẽ khắc cái thổ của Hoá-lộc nữa, thành ra cả ba sao Hao, Cự, Cơ đều xúm nhau lại mà tỵ hiềm Hoá-lộc cả.
Nhưng trái lại nếu Cơ Cự cư Mão Dậu không có song Hao, hội với Quyền Lộc thì lại không sao cả.
Ở phú đoán : song Hao Mão Dậu ái ngộ Cự Cơ, tối hiềm Hoá-Lộc là thế.
Cự Cơ Tý Ngọ
Thạch trung ẩn ngọc cách.
Cũng như cách Cự Cơ thạch trung ẩn ngọc, là trong đá có ngọc, ví như ở dưới lòng đất có mỏ vàng, mỏ kim cương, phải làm sao cho vàng ngọc kia phát được quang huy, lộ ra ngoài để khai thác được, chớ nếu vàng ngọc kim cương cứ ở trong lòng đất sâu hay trong lòng núi thời làm sao mà lấy được.
Ba cách của Cự Cơ
1) Đệ nhất cách là cần thiết phải gặp đươc 2 sao triệt Tuần, ví như sấm sét đã làm nứt núi ra để lộ vàng và kim cương cho ta  tha hồ mà lấy.
Đây là cách Cự Cơ Tý Ngọ ngộ Tuần Triệt khai phát.
2) ĐỆ NHỊ CÁCH - Cự Cơ Tý Ngọ Kình Hình là gặp được Kình-dương Thiên-hình, ví như có kỹ sư, tàu bè, máy móc để khai thác mỏ vàng kia.
3) ĐỆ TAM CÁCH - Cự Cơ Tý Ngọ ngộ song Hao ví như nước chảy đá mòn, nên ngọc vàng lộ ra ở khu nào thời lấy được ngọc vàng ở khu đó .
                            Bạch hổ khiếu tây phương cách
                                 Bạch hổ thuộc kim
                               Miếu địa ở dậu
1) Bạch hổ- hãm địa chủ hình thương , tai nạn
2) Cư ở tật- ách chủ các bệnh về máu huyết, phong đàm hội với thiên-hình hãm chử mổ xẻ, châm chích tàn tật .
3) cư nơi miếu địa, thời tính tình cương cường, anh hùng quả cảm, tái kiên văn võ là cách tứ phương cũng phục anh hùng,
4) ở cung thân thuộc kim vượng địa, ví như cọp ra rừng đi  kiếm ăn , còn có sự hiểm nguy, nhưng ở cung dậu âm kim là như tận dùng sâu, thâm sơn cùng cốc, hổ ở đây ví như đã ăn no về hang nằm nghĩ, nên Bạch hổ miếu ở dậu là nhập ý đó .
                                      Bạch- hổ cư Dần Mão
5) Bạch hổ cư dần mão là hổ xuất sơn lâm, hổ ở đây ví như đã ra ngoài bìa rừng, có thể gặp nhiều hiểm nguy,chẳng han như thợ săn.
Cách đồng gia
 Của Bạch-Hổ và 1 chính tinh
6) 14 chính tinh khi 2 sao cư ở 1 cung là có sự tương đồng về bản chất, nên thường hay trao đổi cho nhau về việc sinh hoá tăng thêm sự rực rỡ tốt đẹp hoặc xấu xa là tuỳ theo các trung tiểu tinh đi theo phù tá.
7) Nếu Bạch-hổ cư cùng một cung với chính tinh thời nên xét chính tinh thuộc hành nào để luận đoán xấu tốt.
Thí dụ Bạch-hổ cư đồng cung với Tham-lang ở Mão là 2 sao này cùng cư nơi vương địa cả.
Tham-lang cư Mão, tử vi thường cho là cách hổ xuất lâm biên.
Ngũ hành vi căn bản
Muốn luận 2 sao này phải căn cứ vào ngũ hành, nếu trong cung Mão có nhiều sao thuộc mộc, lại có sao hỏa nữa, là mộc Tham-lang đủ sức họp thành đảng mà đoạt bạch hổ kim, vì hoả sẽ giúp cho mộc thêm rực rỡ, hay hoả là chất khắc chế kim, như vậy là Bạch-hổ kim kia sẽ bị cháy thêu. Nhưng ngược lại Bạch-hổ kim, nếu gặp thêm các sao thuộc kim, thời Bạch-hổ có thêm vây cánh để tiêu diệt Tham-lang mộc, như vậy là Tham-lang mộc không sống được vì lý kim khắc mộc.
Cũng như  nhất quốc không thể lưỡng vương được, nếu hai anh hùng cùng một nơi dụng võ, tất phải có một bị tiêu diệt, là lý của một chính tinh khi đồng cung với Bạch-hổ.
Cần phải căn cứ vào ngũ hành của Mạnh để phân luận. Nếu Mạnh kim là hợp Bạch-hổ gia thêm sao kim là thắng Tham lang đó. Ngược lại thấy Mạnh mộc hội với nhiều sao mộc là Bạch-hổ sẽ chết.
Nên ở đẩu-số chỉ nhìn vào lá số mà biết người này bị cọp ăn, ngừơi thân phơi chiến địa là thế.
Đồng cung cách của
 Bạch hổ Thiên-tướng
Thí dụ Bạch-hổ Thiên-tướng cư Dần Mão cũng cùng chung một định luật cả, vì Thiên tướng là tướng-binh thiên về võ nghiệp mà Bạch-hổ có nhiều tính chất tướng, như vậy là hai ông chủ tướng lại càng không nên cư đồng gia, sự khắc chế lại càng nhiều tăng thêm lên.
Địa-cầu Chi tinh
Tương quan bát đại hành tinh
Khoa Tử-vi liên quan mật thiết tới bát đại-hành-tinh, vì trong tám ngôi sao này, thì địa cầu của chúng ta cư ngụ, là một đơn vị được Hi-Di tiên sinh tượng bằng sao Địa-Kiếp, để chỉ tất cả các kiếp thú mà chúng ta phải gánh chịu, khi các hành tinh chịu chung sức hấp lực của vũ trụ phát ra ảnh hưởng tuỳ theo độ số của các tinh tú.
Bảng kê bát đại-hành-tinh
1) Thuỷ tinh : Bát đại-hành-tinh chi đệ nhất tinh. Còn gọi là Phòng, hay là Thìn-tinh.
Xương long chi thế dã.
Thủy-tinh chi biệt danh Tân Ất.
2) Kim-tinh : Bát đại-hành-tinh chi đệ nhị tinh.
Kỳ quỹ đạo tại thuỷ-tinh dữ địa-cầu chi gian.
(vị trí đường quay của Kim-tinh ở giữa Thủy tinh và Địa cầu)
Kim-tinh tức là sao Thái-bạch, sao này rất sáng về đêm, thường để xem về giặc giã, và tượng các tứơng soái của một quốc gia.
Sao Thái-bạch phạm vào đế tinh, là trong nước xảy ra đảo chánh. Nếu saoThái-bạch bị phạm, là triệu chứng thất trận, hay sẽ có một vị tướng soái lớn bị chết.
3) Địa cầu : tượng chi Địa-kiếp
Bát đại-hành-tinh chi đệ ngũ tinh
Kỳ phân tuyến đạo khởi ư Dần, ước thập nhị tuế nhi nhất của chu thiên.
Thái-tuế tại Giáp viết quan phòng, hữu tại Dần viết nhiếp-đề cách.
Thuật-số gia rĩ Thái-tuế sở tại vi hung phương.
Kỵ quật thổ, kiến tạo gia trang.
Thái-tuế vi hung phu
Thị Hán-sơ thời rĩ hữu thử thuyết dã.
6) Thổ tinh : Bát đại-hành tinh chi đệ lục tinh.
Kỳ-quỹ-đạo tại Mộc-tinh dữ Thiên-vương tinh chi gian.
7) Thiên-vương tinh : Bát đại-hành-tinh chi đệ thất.
Sao này Đông Phương đã tìm ra từ thời thượng cổ mãi tới tháng 3 năm 1781, Tây-phương mới tìm thấy.
8) Hải-vương tinh : Bát đại-hành-tinh chi đệ bát.
Sao này do ngừơi Anh và Pháp đã tìm thấy từ năm 1845.
Thái-tuế mộc tinh
Thái-tuế là một đơn vị hành-tinh của bát đại-hành tinh, trong Thái-dương hệ chúng ta.
Các thuật số gia đã khám phá từ thời Hán-sơ, biết Thái-tuế vận hành theo đường Hoàng-đạo Dần Thân (tức là đông bắc tây nam)  và 1 vòng chu thiên là 12 năm, mới trở về giáp vòng quỹ đạo ở Dần, mà địa cầu chịu trực tiếp xạ ảnh ở Dần cung, nên Tử-vi mới có định luật sinh năm nào an Thất-tuế ở cung ấy là theo chu độ-số của Mộc tinh (Thái-tuế).
Sở dĩ có thuyết kiêng cữ khai, thổ, kiến tạo gia trang, sơ phòng năm Giáp và tối kỵ năm Dần vì Dần là cung đã chịu ảnh hưởng Thái-tuế bao trùm, đè nén, như ta gọi là ma đè , ma ám coi Thái-tuế ở cung sở tại (Dần) là hung phương, và có nhiếp-đề cách là ý nghĩa ấy. Nếu nói Thái-tuế hỏa là lầm lẫn lớn vậy.
ô




VĂN-KHÚC NAM MẠCH CA
_____________
Văn-khúc thủ Mạnh tối vi lương
Tứơng mạo đường đường chí khí ngang
Sĩ thứ phùng chi ưng phúc hậu

Trượng phu đắc thử phụ kim chương